Đất nước xa xôi nọ vừa trải qua trận nội loạn nghiêng ngả ngai vàng, đẩy vị hoàng tử chưa tròn mười tuổi ngồi lên ngôi báu, hiệu Bình Trị. Hoàng đế non trẻ, vai chưa gánh nổi long bào, mắt chưa nhìn thấu dã tâm, mà trong ngoài triều thì cuồn cuộn sóng ngầm, bè cánh phe phái chưa tan. Bởi việc trong chưa an nên việc ngoài khó quản. Chốn giang hồ càng được thế tiêu dao ngoài tầm kiểm soát của quan quân.
Đâu đó cách kinh thành ngàn dặm, thôn làng nhỏ bé mang tên Huyền Lạc đang trải qua một đêm dài mờ mịt. Những hạt mưa tí tách réo suốt ngày dài khiến ông trăng chẳng buồn thức dậy, để lại bầu trời chỉ một màu đen kịt như nghiên mực mới mài.
Giữa bức màn tĩnh lặng, chỉ có ánh đèn từ quán rượu cuối đường còn le lói. Tia sáng vàng hắt xuống vỡ tan theo từng giọt nước, lại như nhảy múa theo tiếng đàn tiễn chân và tiếng hát chúc tụng của những người bạn già dành cho bạn cũ lâu năm.
Dưới ánh đèn leo lét, người đàn ông mặc áo lụa xanh, tóc tai đen nhánh nổi bật giữa những mái đầu bạc với áo quần cũ kỹ. Người ấy tuổi chừng bốn mươi, mày rậm mắt sáng, tóc vén qua thái dương buộc gọn sau đầu, buông xõa xuống lưng, chính là Quý Quảng Nguyên, một nhân vật lớn của đệ nhất giáo Thiên Hỏa giáo, lừng lẫy giang hồ với biệt danh Tinh Minh Kỳ Kiến.
Thật ra, những người ngồi đây đều lớn hơn ông ta. Thời ông ta còn là gã trai trẻ bữa đói bữa no, chỉ biết cắm đầu vào mấy thứ người ta cho là kỳ quái, họ đã là cây đa cây đề của làng. Khi ấy, ông ta như con cá lớn mắc cạn, không có giáo chủ Từ Lệnh Uy phát hiện và đưa ra biển thì đã sớm chết khô. Từ sau cơ duyên ấy, ông ta nổi danh thiên hạ, dân ở quê đều đổi thái độ. Những người từng đứng trên cao nhìn xuống, nay còn phải hạ thấp cái tôi để gọi hai chữ “tiên sinh”.
Quý Quảng Nguyên ngẩng đầu, thấy người vừa gọi là ông họa sư Thi Tấn Đồng. Ông ta đứng ngay cạnh, vừa rót rượu vừa lè nhè với cặp mắt đỏ au:
- Tiên sinh phiêu bạt giang hồ, hẳn từng gặp nhiều điều kỳ thú. Hiếm khi ông về thôn Huyền Lạc, mai đã phải lên đường. Sao không nhân khi mọi người cao hứng kể vài chuyện giang hồ nghe chơi?
Quý Quảng Nguyên nâng chén nhấp môi, thủng thẳng đáp lời:
- Ta đâu phải hiệp khách giang hồ. Cả ngày quanh quẩn bên giáo chủ, có gì đáng kể?
Thi Tấn Đồng cúi đầu ghé sát:
- Thế nói về giáo chủ của ông đi. Ông ấy là người thế nào?
- Hùng tài đại lược, anh minh lỗi lạc, nghĩa bạc vân thiên có được chưa? Đoán già đoán non làm gì. Người ta phò tá, tất nhiên là bậc anh hùng đáng để các ông kính phục.
Hứa Vạn Bôi, chủ quán rượu, cười nhếch nhác:
- Ta tự hỏi lời tâng bốc của dòng tôi tớ thì có mấy phần đáng tin.
Cầm sư Ngô Giang hoảng vía buông đàn, kéo vai chủ quán:
- Ấy chết. Ông chủ Hứa mới uống mấy ly đã say rồi.
Hứa Vạn Bôi đẩy Ngô Giang ra, đặt mạnh chén xuống bàn:
- Tên ma đầu dung túng đệ tử giết người cướp của cũng xứng gọi là anh hùng sao? Hắn mà đáng để bọn ta kính phục á? Đúng là nực cười.
Ly rượu trên tay Quý Quảng Nguyên dừng lại giữa chừng. Ông ta nheo mắt, hừ nhẹ một tiếng:
- Ma đầu? Con chuột nào rỉ tai ông mấy lời này?
Giọng Hứa Vạn Bôi rít cao:
- Cần gì ai nói! Ngay đây. Thôn Thạch Thọ, trấn Bạch Hạc bị đám chó săn Thiên Hỏa giáo trấn lột tan hoang, sát hại tính mạng vô tội vạ. Chúng mặc trang phục gì, cầm cờ hiệu gì, có đầy người chứng kiến. Cần thì ta dắt mi đi hỏi.
Quý Quảng Nguyên đứng phắt dậy:
- Tôn chỉ của bổn giáo là đề cao nhân nghĩa, cứu khốn phò nguy. Đời nào làm mấy chuyện đầu trộm đuôi cướp. Trang phục, cờ hiệu cũng có thể bị làm giả được vậy? Mấy con ếch già các ông quanh năm ru rú trong cái giếng cạn, làm gì biết phân biệt?
Hứa Vạn Bôi đập bàn, áp sát đối phương thị uy:
- Chẳng bằng các ngươi nuôi không nổi bầy chó săn nên cố tình thả chúng ra cắn càn kiếm ăn hả?
Quý Quảng Nguyên ngẩng cao đầu cười rộ:
- Bổn giáo thiếu mấy đồng bạc lẻ hay sao mà phải đi cướp của mấy người? Có biết giáo chủ ta là con trai một của thủ phú đất nam không? Có biết Thiên Hỏa giáo có bao nhiêu đất ruộng, cửa hiệu không? Trợn mắt cái gì? Ông tưởng hung dữ thì thành có lý à?
Mấy người xung quanh vội chen vào can ngăn. Họ vốn bàn nhau thăm dò nội tình Thiên Hỏa giáo. Ai ngờ Hứa Vạn Bôi rượu vào hư chuyện, không biết kiêng dè. Có người lấm lét nhìn ra cửa sổ, sợ có ám vệ Thiên Hỏa giáo ẩn nấp xung quanh. Có người dò xét liếc nhìn Quý Quảng Nguyên, sợ ông ta mưu đồ bất lợi.
Thầy đồ Trịnh Chi phản ứng nhanh nhất:
- Quý tiên sinh nói đúng. Chúng ta chỉ là mấy con ếch già hiếm khi trèo khỏi giếng. Nếu thật có người mạo danh Thiên Hỏa giáo gây chuyện, đúng là không phân biệt được.
Hứa Vạn Bôi liếc ra cửa sổ. Bên ngoài không có động tĩnh gì bất thường khiến ông ta tự tin gấp bội:
- Chẳng phải giáo chúng của bọn mi trải khắp thiên hạ sao? Nếu đám cướp đó là giả mạo, mi gọi người đến tóm cổ chúng cho ta xem.
Bọn họ mắt đảo mắt nháy, tất thảy đều lọt vào tầm nhìn của Quý Quảng Nguyên. Ông ta nổi danh với chữ “trí”, chẳng lẽ không nhìn ra chút cơ mưu nhỏ nhoi của họ.
Xưa kia Quý Quảng Nguyên còn ở thôn Huyền Lạc, hầu hết người ở đây đều coi thường ông ta, đến giờ thành danh, cũng chỉ xem là may mắn gặp thời. Quý Quảng Nguyên thì kệ đời từ trẻ, chẳng thèm nhìn sắc mặt ai. Nếu chẳng vì cái danh đồng hương chắc đôi bên còn không giữ nổi mối quan hệ bằng mặt không bằng lòng đến tận bây giờ. Song, mấy ngày trước trở về, ông ta vẫn nhận ra có gì đó khác thường trong nụ cười giả lả của thôn dân. Chỉ một buổi, ông ta đã nắm hết tình hình đại khái, nhưng vẫn giả vờ không biết.
Các thôn trấn xung quanh xảy ra cướp bóc, thôn Huyền Lạc đang trong cảnh ngàn cân treo sợi tóc. Trưởng thôn gọi họp mấy lần, chọn ra vài chục trai tráng lập đội quyết tử bảo vệ thôn. Giữa lúc tin ác của Thiên Hỏa giáo như sấm động bên tai, sự xuất hiện của Quý Quảng Nguyên trở thành nhân tố ảnh hưởng trọng đại.
Họ mật bàn mấy ngày, quyết định cử mấy lão tiền bối đức cao vọng trọng, vốn thường xưng bạn già với Quý Quảng Nguyên, đứng ra tổ chức tiệc chia tay. Ngoài mặt là tình làng nghĩa xóm, thực chất định thừa cơ thăm dò Thiên Hỏa giáo.
Họ vốn không dám manh động vì e ngại cao thủ Thiên Hỏa giáo có thể lẩn trốn xung quanh. Nhưng Hứa Vạn Bôi đã trót làm lộ ý đồ, họ không còn đường dĩ hòa vi quý. Bấy giờ đã chắc chín phần không có cao thủ mai phục, mà mấy chục trai tráng nấp trong hầm rượu cũng đã chuẩn bị sẵn sàng. Thay vì chờ chết, chi bằng cứ bắt sống Quý Quảng Nguyên làm con tin, may ra còn có thể mặc cả với Thiên Hỏa giáo.
Quý Quảng Nguyên đã đoán được từ trước, dĩ nhiên chẳng đến tay không. Biết không thể đi dễ dàng, ông ta đã tự sắp đặt cho mình một màn oai hùng, liền hất cằm ngạo nghễ:
- Khỏi nói. Mai đây ta sẽ đi thẳng đến Thanh Lương doanh gọi người đến dẹp sạch lũ giặc giả mạo, bắt tất cả kẻ nói xấu Thiên Hỏa giáo đều phải câm miệng.
Chủ quán trừng mắt gầm gừ. Trịnh Chi ra hiệu đám bạn lùi lại, thẳng tay ném choang chén rượu xuống sàn. Mấy chục thanh niên trai tráng từ sau bức màn ập ra.
Bỗng đâu, một làn khói đục bốc lên. Ai nấy đều thấy mắt mũi cay xè, nước mắt giàn giụa, vung cuốc vung gậy quờ quạng. Liền sau đó, cả đám ngã vật xuống sàn. Hiện trường náo loạn thoáng chốc chỉ còn lại đám người nằm la liệt cạnh chiếc bình nhỏ vỡ tan.
Còn Quý Quảng Nguyên đâu? Ông ta treo mình lơ lửng trên không bằng một sợi dây mảnh. Đầu sợi dây quấn quanh xà nhà mấy vòng, có một đầu hình hoa giữ cố định, thân nối liền với vòng tròn nhỏ đeo trên ngón áp út của Quý Quảng Nguyên. Ông ta gập nhẹ chốt dài dưới vòng tròn, cánh hoa khép lại như búp hoa, sợi dây tuột ra, thu lại, quay về hình dáng như chiếc nhẫn thông thường.
Quý Quảng Nguyên rơi bịch xuống bàn, tuy hơi ê ẩm chân nhưng chung quy đã an toàn. Ông ta nằm dài trên bàn chưởng quỹ, mân mê chiếc nhẫn. Chốt dài bật ra, mặt nhẫn hình hoa lập tức bắn mạnh ra xa, quấn cố định vào xà nhà. Chốt ngắn bật ra, dây thu về từ phía nhẫn kéo ông ta rời khỏi vùng nguy hiểm. Mấy người dân quê kia sao lường nổi mánh khóe giấu trong chiếc nhẫn này.
Ông ta thầm tự đắc một lúc rồi nhìn xuống đám người dưới sàn. Chắc hẳn họ còn phải ngủ một giấc dài, tỉnh lại mấy ngày mới hết bủn rủn tay chân. Nghĩ đến họ cả gan miệt thị Thiên Hỏa giáo, còn ỷ đông hiếp yếu, động tay động chân, Quý Quảng Nguyên quyết định nghỉ lại quán một đêm, đợi sáng mai ung dung rời khỏi trước ánh mắt sự bất lực của họ cho hả dạ.
Đến khi mặt trời lên cao, bên ngoài chợt vẳng đến tiếng vó ngựa xen lẫn giọng quát tháo xa xa. Rồi rầm một tiếng, cửa quán rượu bị đá tung, cả đội người mặc đồng phục vàng, đeo cờ hiệu tràn vào.
Người bên trong bừng tỉnh, gọi nhau thức dậy, nhưng cơ thể rã rời, đứng cũng không xong, cứ như sức lực đứa trẻ lần đầu phải mang thân xác trưởng thành. Một chàng trai tương đối gọn người run rẩy chống cuốc bước ra:
- Các vị là ai? Đến đây có chuyện gì?
Một gã đàn ông cao lớn có cặp mắt diều hâu rẽ đám đông bước tới trước mặt chàng trai cầm cuốc. Trước sự sợ hãi hoang mang của chàng, hắn rút đao vung một đường ngọt xớt. Ánh kim loại lóe sáng, một tia máu bắn thẳng lên trần, rơi xuống đầy mặt gã. Quần chúng vây xem tái mặt, tản xa chục thước.
Gã chẳng thèm đoái hoài, ung dung soi lưỡi đao nhuốm máu dưới ánh nắng trưa như ngắm nhìn chiến tích:
- Ông đây là Hà Mộ Sơn, người Thiên Hỏa giáo. Nếu các ngươi không muốn có kết cục giống thằng nhãi này thì mang hết tiền bạc lương thực ra đây!
Dứt lời, gã khoát tay ra hiệu cho thuộc hạ khống chế dân làng, thu gom chiến lợi phẩm. Trai tráng của làng đều đã trúng độc mềm nhũn trong quán rượu, chỉ quật một cái là trói gô được, còn lại đều là người sức yếu đến vừa, không sao phản kháng, chỉ đành thuận theo.
Hà Mộ Sơn đá lăn đầu người xuống dưới ghế, hiên ngang bước vào ngồi chễm chệ phía trên, gằn giọng gọi:
- Chủ quán đâu, đem rượu thịt ra đây!
Hứa Vạn Bôi cuống quýt bò dậy, khó nhọc chạy vào trong.